Phát triển công nghiệp văn hoá: đủ thông thoáng để sáng tạo, đủ chặt chẽ để bảo vệ nguồn lực công
Chiều 24/10, thảo luận tại tổ về Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, các đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội cho rằng đây là đạo luật mang tính lịch sử, thể chế hóa kịp thời quan điểm, chủ trương lớn của Đảng tại Nghị quyết số 80-NQ/TW nhằm biến văn hóa thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới. Từ thực tiễn của Thủ đô, các đại biểu phân tích góc nhìn đa chiều từ triết lý lập pháp, khung khổ tài chính - đất đai, bảo hộ sở hữu trí tuệ, đào tạo nhân lực, đến bảo đảm quốc phòng - an ninh.

Không để chính sách ưu đãi về đất đai, tài chính bị lợi dụng, biến tướng
Đại biểu Hoà thượng Thích Bảo Nghiêm khẳng định việc ban hành Luật là bước đi quan trọng nhằm đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh và nâng cao sức mạnh mềm đất nước. Tuy nhiên, Hoà thượng Thích Bảo Nghiêm nhấn mạnh yêu cầu cốt tử ngay từ khâu thiết kế chính sách: "vấn đề quan trọng nhất của dự án Luật không chỉ là đưa ra các chính sách khuyến khích, ưu đãi, mà phải bảo đảm những chính sách đó thực sự hiệu quả, khả thi, đúng đối tượng và không tạo ra kẽ hở để trục lợi".
Đi sâu vào chính sách ưu đãi đầu tư, Hoà thượng Thích Bảo Nghiêm đồng tình việc dành cơ chế thu hút nguồn lực, song yêu cầu phải phân định rạch ròi giữa các dự án thực sự tạo ra sản phẩm, giá trị sáng tạo với những dự án thuần túy thương mại, dịch vụ nhưng đăng ký danh nghĩa công nghiệp văn hóa. Nếu quy định dàn trải, thiếu tiêu chí cụ thể, chính sách sẽ trượt mục tiêu, khiến các doanh nghiệp sáng tạo chân chính, nhất là doanh nghiệp nhỏ và dự án khởi nghiệp, không thể tiếp cận. Do đó, tiêu chí ưu đãi phải gắn chặt với hoạt động sáng tạo, sản phẩm văn hóa, tài sản trí tuệ và đóng góp thực chất, đồng thời phải có cơ chế hậu kiểm, đánh giá kết quả thực hiện thay vì chỉ dựa vào hồ sơ giấy tờ ban đầu.
Xem Thêm >> "Bảo vệ dữ liệu cá nhân trở thành một quyền công dân cốt lõi"
Đặc biệt, đối với chính sách đất đai - nguồn lực có giá trị rất lớn nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ thất thoát cao - đại biểu Hoà thượng Thích Bảo Nghiêm đề nghị phải cân nhắc hết sức thận trọng. Luật cần minh định loại dự án được hưởng ưu đãi đất đai, điều kiện sử dụng, nghĩa vụ duy trì hoạt động văn hóa theo mục tiêu phê duyệt và chế tài xử lý nghiêm minh khi vi phạm cam kết, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng "đội lốt" dự án văn hóa để thâu tóm đất đai làm bất động sản, thương mại. Đại biểu đã đúc kết một thông điệp có tính nguyên tắc: "Chính sách đất đai phải phục vụ hoạt động sáng tạo và phát triển văn hóa thực chất, không trở thành một cơ chế ưu đãi bất động sản dưới tên gọi khác". Bên cạnh đó, chính sách này phải được rà soát đồng bộ với pháp luật về đất đai, đầu tư và quản lý tài sản công.

Về chính sách tài chính, Hoà thượng Thích Bảo Nghiêm nhất trí Nhà nước cần hỗ trợ công nghiệp văn hóa vì đây là lĩnh vực rủi ro cao ở giai đoạn ươm mầm ý tưởng, thử nghiệm sản phẩm và tiếp cận thị trường. Tuy vậy, chính sách không được cào bằng hay bao cấp trực tiếp quá mức, mà phải phân định rõ ba nhóm: phần việc Nhà nước phải đầu tư, phần việc cần hỗ trợ, và phần việc doanh nghiệp phải vận hành theo quy luật thị trường. Nguồn lực công phải được rót đúng những khâu tạo sức lan tỏa như đào tạo nhân lực, R&D sản phẩm, chuyển đổi số, bảo hộ sở hữu trí tuệ và mở rộng thị trường. Các gói hỗ trợ vốn, ưu đãi thuế, lãi suất phải đi kèm điều kiện, thời hạn, định lượng hiệu quả cụ thể và tính toán kỹ tác động ngân sách để tránh chồng chéo.
Cùng chung mạch tư duy quản trị nguồn lực hiệu quả, khi bàn về Điều 21 dự thảo Luật (quy định bố trí không gian giới thiệu, trưng bày, trình diễn sản phẩm văn hóa trong các công trình xây dựng và tính vào tổng mức đầu tư), ĐBQH Dương Minh Ánh lưu ý: mặc dù mục tiêu giúp nhân dân thụ hưởng văn hóa là rất tích cực, nhưng nếu bắt buộc áp dụng cho mọi dự án, đặc biệt là công trình thương mại, nhà chung cư và công trình hỗn hợp có chức năng ở, sẽ làm tăng chi phí đầu vào của doanh nghiệp và đội giá thành công trình. Mặt khác, giá trị sản phẩm văn hóa thường biến động lớn, rất khó để lượng hóa chuẩn xác vào tổng mức đầu tư xây dựng. Vì vậy, đại biểu Dương Minh Ánh đề xuất chỉ nên bắt buộc đối với công trình công cộng; còn đối với các dự án nhà ở, thương mại, cần để doanh nghiệp tự chủ quyết định dựa trên định hướng phát triển và nhu cầu thị trường.

Bảo vệ tài sản trí tuệ và gỡ nghẽn thị trường: Đặt người sáng tạo ở vị trí trung tâm, kiến tạo niềm tin pháp lý
Một trong những vấn đề được thảo luận sâu sắc và toàn diện nhất là bảo vệ quyền lợi của chủ thể sáng tạo và khơi thông các mắt xích thương mại hóa tài sản trí tuệ. Khẳng định công nghiệp văn hóa được xây dựng trên tài năng, ý tưởng và tài sản trí tuệ, các đại biểu cho rằng bảo vệ quyền và lợi ích của người sáng tạo phải là nội dung cốt lõi của đạo luật. Nếu chỉ chăm chăm ưu đãi nhà đầu tư mà quên đi quyền lợi của tác giả, nghệ sĩ, nhà thiết kế thì chính sách sẽ hoàn toàn mất cân bằng. Trước thực trạng người sáng tạo yếu thế trong đàm phán hợp đồng, phân chia lợi nhuận và đối mặt thách thức số, trí tuệ nhân tạo (AI), dự thảo Luật phải thiết lập các cơ chế cụ thể hỗ trợ xác lập, định giá, bảo hộ tài sản trí tuệ, trợ giúp pháp lý và minh bạch hóa giao dịch thương mại để người sáng tạo thực sự được hưởng lợi từ giọt mồ hôi trí tuệ của mình.
Tiếp cận vấn đề dưới góc nhìn pháp lý chuyên sâu, ĐBQH Nguyễn Phương Thuỷ khẳng định thực tiễn nước ta đã xuất hiện những điểm sáng ấn tượng từ điện ảnh, âm nhạc quy mô lớn đến thủ công mỹ nghệ gắn với du lịch, minh chứng rõ nét cho chân lý: "Văn hóa không chỉ tạo ra giá trị tinh thần mà còn có thể trở thành nguồn lực kinh tế quan trọng". Đánh giá cao các thiết chế mới tại các điều 10, 11, 12 và 27, đại biểu Nguyễn Phương Thuỷ đã phân tích thấu đáo để bảo đảm tính thống nhất với hệ thống pháp luật.
Về nền tảng số hỗ trợ quyền sở hữu trí tuệ (Điều 10): Đại biểu đề nghị phân định rõ phạm vi hỗ trợ chỉ tập trung vào quyền tác giả, quyền liên quan hay bao quát cả quyền sở hữu công nghiệp và giống cây trồng. Vì Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan, nên nếu thiết kế nền tảng cho toàn bộ hệ thống sở hữu trí tuệ thì bắt buộc phải có cơ chế phối hợp liên ngành, tránh việc giao Bộ trưởng hướng dẫn dẫn tới vô tình vượt quá thẩm quyền luật định. Về giá trị pháp lý, đại biểu chỉ rõ quyền tác giả phát sinh tự động khi tác phẩm được sáng tạo và định hình vật chất mà không phụ thuộc vào đăng ký. Do đó, đại biểu đưa ra nhận định mang tính cốt lõi: "nhật ký sáng tạo hoặc dấu thời gian do nền tảng ghi nhận có thể hỗ trợ chứng minh quá trình hình thành tác phẩm, nhưng không mặc nhiên xác lập quyền hoặc chứng minh người đưa tác phẩm lên hệ thống chính là tác giả, chủ sở hữu hợp pháp". Nền tảng số chỉ đóng vai trò hỗ trợ quản lý dữ liệu, chuẩn bị hồ sơ, liên thông với hệ thống đăng ký hiện hành, không thể thay thế cơ chế xác lập quyền hay tài phán tranh chấp.

Về sử dụng quyền sở hữu trí tuệ trong quan hệ tín dụng (Điều 11): Đại biểu Nguyễn Phương Thuỷ hoan nghênh định hướng xem tài sản trí tuệ là nguồn lực thế chấp, góp vốn của doanh nghiệp văn hóa. Dù vậy, pháp luật dân sự, doanh nghiệp và Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2025 đã có cơ sở pháp lý cho việc này, nên Luật mới không cần nhắc lại quyền chung chung mà phải chỉ rõ điểm nghẽn thực tế cần tháo gỡ. Cần phân biệt rạch ròi giữa quyền nhân thân không thể chuyển nhượng với quyền tài sản, cũng như nhận thức rằng khả năng sinh lời, thời hạn bảo hộ của từng loại tài sản trí tuệ (như một bộ phim) là rất khác nhau. Đặc biệt, chứng thư thẩm định giá chỉ là căn cứ tham khảo, không thể tước bỏ quyền tự chủ đánh giá rủi ro cấp tín dụng của ngân hàng. Đối với nguyên tắc ưu tiên tiếp tục khai thác quyền qua doanh nghiệp công nghiệp văn hóa khi xử lý tài sản bảo đảm (khoản 4 Điều 11), đại biểu lưu ý: "mục tiêu duy trì giá trị văn hóa không thể tự nó trở thành căn cứ để ưu tiên phương án này" nếu việc đó xâm phạm đến quyền hợp pháp của chủ nợ có bảo đảm hoặc trái với trình tự thi hành án, phá sản.
Ở khía cạnh bảo vệ bản quyền trước thách thức công nghệ, ĐBQH Nguyễn Hoàng Trường cảnh báo tình trạng các hành vi xâm phạm di sản bằng công nghệ cao đang bị bỏ lọt. Đại biểu đề nghị bổ sung ngay một khoản cấm riêng tại Điều 7: "Nghiêm cấm hành vi sử dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ số để sao chép, giả mạo giọng nói, hình ảnh biểu diễn, phong cách tác phẩm hoặc khai thác trái phép tri thức văn hóa dân gian, di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng khi chưa được sự đồng ý của chủ thể sáng tạo hoặc cộng đồng nắm giữ di sản".
Hài hòa giữa phát triển văn hóa và bảo vệ an ninh quốc gia
Khẳng định dự án Luật là bước đi mới thể chế hóa đường lối của Đảng, gắn văn hóa với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và quản trị hiện đại, đại biểu Lưu Nam Tiến đóng góp những nội dung mang tính chiến lược về công trình quốc phòng và hạ tầng số. Cụ thể, đối với các công trình có tính chất đặc thù thuộc quốc phòng, an ninh, đại biểu Lưu Nam Tiến cho rằng bên cạnh các công trình trực tiếp làm nhiệm vụ tác chiến, lực lượng vũ trang đang quản lý hệ thống bảo tàng quân sự, trung tâm văn hóa, thể thao có giá trị văn hóa và tiềm năng phát triển công nghiệp văn hóa rất lớn. Do đó, không nên máy móc loại trừ toàn bộ chỉ vì công trình thuộc phạm vi quản lý của quân đội, mà cần căn cứ vào công năng, yêu cầu an toàn, nhiệm vụ chính trị của từng địa điểm. Quy định của Luật phải hướng tới việc vừa bảo vệ an toàn khu quân sự, bí mật nhà nước, vừa giải phóng tiềm năng các công trình đủ điều kiện, "tránh cách hiểu hoặc áp dụng quy định theo hướng loại trừ một cách máy móc".

Về xây dựng Hạ tầng số văn hóa quốc gia, đại biểu Lưu Nam Tiến nhấn mạnh nguyên tắc bất di bất dịch: "kết nối, chia sẻ dữ liệu không đồng nghĩa với việc mọi dữ liệu đều có thể được chia sẻ với cùng phạm vi và mức độ tiếp cận". Trong lĩnh vực quân sự, có những dữ liệu di tích, bảo tàng cần quảng bá rộng rãi, nhưng cũng có những dữ liệu lịch sử, quốc phòng phải tuyệt đối bảo mật. Do đó, việc xây dựng và vận hành hạ tầng số văn hóa bắt buộc phải song hành với pháp luật về dữ liệu, an ninh mạng và bảo vệ bí mật nhà nước; phân định thẩm quyền rõ ràng, không tạo thêm rào cản hành chính nhưng dứt khoát không để phương hại đến an ninh quốc gia.
Tiếng nói từ thực tiễn Thủ đô và phân cấp cơ sở: Gỡ vướng thể chế để giải phóng không gian sáng tạo
Bám sát thực tiễn phong phú của Thủ đô Hà Nội - thành viên Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO, đại biểu Nguyễn Hoàng Trường chỉ rõ khoản 2 Điều 2 đang liệt kê cào bằng các ngành, chưa phân định giữa "công nghiệp sáng tạo nội dung văn hóa" (điện ảnh, phần mềm, âm nhạc) với "công nghiệp văn hóa ứng dụng/thực hành dịch vụ" (du lịch ẩm thực, làng nghề), gây lúng túng cho cấp xã khi rà soát, thống kê hỗ trợ. Đại biểu đề nghị giao Chính phủ phân loại chi tiết theo từng thời kỳ. Tại khoản 2 Điều 1, cần bổ sung đối tượng áp dụng là tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ xuyên biên giới hoặc thuê bối cảnh, lưu trú sáng tác tại Việt Nam để bịt kín kẽ hở pháp lý.
Phân tích Điều 23 quy định sản phẩm mang bản sắc văn hóa Việt Nam dựa trên tiêu chí cơ học về tỷ lệ tham gia của nhân lực và công nghệ Việt Nam, đại biểu cảnh báo điều này tiềm ẩn nguy cơ xung đột với nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT) trong Hiệp định CPTPP và EVFTA, vô tình đẩy các cơ sở làng nghề, OCOP có hợp tác, nhận chuyển giao kỹ thuật từ nước ngoài ra rìa chính sách. Vì vậy, tiêu chí cần sửa đổi theo hướng đánh giá mức độ đóng góp của quá trình nghiên cứu, sáng tạo, sản xuất gắn với tri thức bản địa, phù hợp điều ước quốc tế.

Nêu thực tế tại các phường, xã, nhu cầu tổ chức chợ đêm, biểu diễn nghệ thuật đường phố, giới thiệu làng nghề tại công viên nhỏ, sân sinh hoạt cộng đồng, tuyến ngõ là rất lớn. Việc dự thảo dồn toàn bộ thẩm quyền tiếp nhận đăng ký lên UBND cấp tỉnh qua cổng dịch vụ công là xa rời thực tế, tạo gánh nặng thủ tục và tước mất sự chủ động của cơ sở. Đại biểu kiến nghị phân cấp trực tiếp cho UBND cấp xã tiếp nhận thông báo, đăng ký và giám sát các sự kiện văn hóa quy mô nhỏ.
Về chuyển đổi các nhà máy cũ, cơ sở công nghiệp dôi dư di dời thành tổ hợp sáng tạo văn hóa (Điều 17), đại biểu Nguyễn Hoàng Trường nhận định cơ sở đang bế tắc vì vướng các quy định về đấu thầu, định giá đất thương mại dịch vụ theo pháp luật đất đai và tài sản công, vì vậy cần bổ sung quy định chuyển tiếp cho phép các đô thị đặc biệt được áp dụng cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô. Tương tự, để phát triển kinh tế đêm và phố đi bộ mà không xung đột với Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, cần trao thẩm quyền cho HĐND thành phố trực thuộc trung ương ban hành quy chế sử dụng tạm thời lòng đường, hè phố.
Một số hình ảnh tại phiên thảo luận ở Tổ 1 - Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội chiều 24/10:

Thu Quỳnh